Nhận Định Thị Trường Dài Hạn Tháng 05/2024 – Đợt 1

Bản tin nhận định thị trường hàng hóa dài hạn tháng 05/2024 – đợt 1 có những điểm đáng chú ý gì mời quý Nhà đầu tư cùng theo dõi. Bản tin nhận định thị trường dài hạn là bản tin cho đội ngũ phân tích có nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực đầu tư hàng hóa của công ty Gia Cát Lợi thực hiện.

Bản tin được cập nhật vào mỗi tháng nhằm mang những thông tin bổ ích đến quý nhà đầu tư một cách kịp thời nhất. Rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của quý Nhà đầu tư để chúng tôi có động lực phát triển hơn nữa.

Gia Cát Lợi xin gửi đến quý nhà đầu tư nhận định thị trường hàng hóa dài hạn tháng 05/2024 – đợt 1. Chuyên viên phân tích của chúng tôi sẽ chia sẻ về tình hình kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng đến giá, tình hình thị trường và các cơ hội giao dịch tháng 05/2024 – đợt 1. Chúc quý nhà đầu tư có một ngày giao dịch thành công!

NÔNG SẢN

Kết quả báo cáo nông sản WASDE

Nhận định

Lúa mì: Đà tăng của lúa mì có thể sẽ kéo dài trong vài tuần tới

  • Tồn kho lúa mì Mỹ niên vụ 2024/25 tăng lên so với niên vụ 23/24 nhưng vẫn thấp hơn mức dự đoán. Xuất khẩu mặc dù tăng lên nhờ giá cả cạnh tranh hơn nhưng vẫn ở mức thấp trong vòng 50 năm qua.
  • Còn đối với các số liệu thế giới, khối lượng tiêu thụ niên vụ 2024/25 dự kiến sẽ tăng 2 triệu tấn lên mức kỷ lục 802,4 triệu tấn do nhu cầu sử dụng làm lương thực, hạt giống và công nghiệp (FSI). Về thương mại, Nga vẫn là quốc gia xuất khẩu lúa mì hàng đầu thế giới. USDA cũng điều chỉnh số liệu nguồn cung của một số quốc gia khác lớn khác nhưng về tổng quan, tồn kho lúa mì thế giới dự kiến sẽ đạt 253,6 triệu tấn, mức thấp nhất kể từ niên vụ 2015/16.

Hiện tại, mùa vụ của Nga và Mỹ vẫn đang còn phải đối mặt với rủi ro thiệt hại do thời tiết bất lợi. Trong bối cảnh tồn kho được dự báo sẽ chỉ đạt mức thấp, đà tăng của lúa mì sẽ được củng cố trong vài tuần tới.

Ngô: Xuất khẩu ngô Mỹ cải thiện sẽ hỗ trợ cho giá

  • USDA điều chỉnh cả 2 số liệu sản lượng ngô dự báo của Argentina và Brazil. Tuy nhiên, ngược với kỳ vọng của thị trường, nguồn cung ngô của Brazil lại gia tăng so với báo cáo trước. Tuy nhiên, ở thời điểm này, triển vọng mùa vụ của Nam Mỹ đã qua giai đoạn quan trọng nhất nên sẽ không còn tác động đáng kể tới giá.
  • Thay vào đó, các dự báo đối với mùa vụ của Mỹ mới là nguyên nhân chính thúc đẩy giá. Cụ thể, diện tích ngô chỉ đạt mức 82,1 triệu mẫu, thấp hơn nhiều so với mức dự đoán là 87 triệu mẫu và niên vụ trước. Trong khi đó, tồn kho cuối niên vụ 2023/24 lại thấp hơn do xuất khẩu cải thiện vài tuần gần đây. Thị phần toàn cầu của Mỹ dự kiến sẽ gia tăng và đây tiếp tục là năm thứ 2 mà nước này quay trở lại vị thế dẫn đầu về xuất khẩu.

Chúng tôi cho rằng những số liệu trên sẽ là yếu tố chính giúp củng cố lực mua với ngô trong thời gian tới, đặc biệt là khi giai đoạn gieo trồng vẫn chưa hoàn thành.

Đậu tương: Không có nhiều bất ngờ, giá đậu tương sẽ duy trì xu hướng hiện tại

  • Tâm điểm chú ý trong báo cáo lần này chủ yếu tập trung đến các số liệu của Mỹ. Sản lượng đậu tương niên vụ 2024/25 của nước này được dự báo tăng so với niên vụ trước, phù hợp với dự đoán của thị trường . Do sản lượng cải thiện, tồn kho đậu tương niên vụ 2024/25 của Mỹ cũng được dự báo sẽ tăng so với niên vụ 2023/24, cao hơn dự đoán trung bình của giới phân tích nhưng vẫn nằm trong khoảng dự đoán. Nhìn chung, các số liệu Mỹ nghiêng về hướng “bearish” đến giá, tuy nhiên tác động là không quá lớn do hoàn toàn nằm trong kỳ vọng.
  • Đối với các số liệu Nam Mỹ, USDA chỉ giảm nhẹ dự báo sản lượng đậu tương niên vụ 2023/24 của Brazil đi 1 triệu tấn trong khi giữ nguyên số liệu của Argentina. Điều này cho thấy USDA vẫn đang khá lạc quan về tình hình vụ mùa tại Nam Mỹ, bất chấp tình hình thời tiết xấu gần đây. Đối với các số liệu niên vụ mới 2024/25, sản lượng của cả Brazil và Argentina đều được kỳ vọng tăng so niên vụ niên vụ hiện tại, không phải là yếu tố quá bất ngờ.

Nhìn chung, báo cáo lần này sẽ có tác động “bearish” đến thị trường. Mặc dù vậy, ảnh hưởng đến giá sẽ không mạnh khi các số liệu đều nằm trong dự đoán của giới phân tích.

Đậu tương

Ở thông tin cuối tuần vừa qua về báo cáo dữ liệu nông sản WASDE, Sau thông tin kết quả báo cáo WASDE thì StoneX hạ dự báo sản lượng đậu tương niên vụ 23/24 của Brazil xuống 147,8 triệu tấn

Hãng tư vấn StoneX hạ dự báo sản lượng đậu tương niên vụ 23/24 ở bang Rio Grande do Sul của Brazil xuống mức 20 triệu tấn, thấp hơn so với mức 23,05 triệu tấn được ước tính trước đó sau khi mùa vụ đối mặt với mưa lũ nghiêm trọng.

Trước sự sụt giảm sản lượng tại bang sản xuất đậu tương lớn thứ 2 tại nước này, StoneX dự báo sản lượng đậu tương niên vụ 23/24 ở Brazil sẽ giảm xuống 147,8 triệu tấn, so với mức 150,8 triệu tấn đưa ra trước đó.

→ Thông tin tác động tăng đối với giá đậu tương khi dự báo sản lượng Đậu tương giảm.

Kỹ thuật

Giá đậu tương đã duy trì được đà tăng sau khi tích lũy giá quanh mức 1210 và bật tăng lên trở lại kèm 1 khối lượng volume khá là lớn cùng với đó là xu hướng chính vẫn là 1 xu hướng tăng.

Trong phiên giao dịch đầu tuần, an toàn hơn với mức giá hiện tại đang chạm vào đường trendline giảm phía bên trên. Chúng ta ưu tiên phá qua khỏi đường trendline giảm này và tiến hành mua lên

Tín hiệu tham khảo:

  • Mua đậu tương tháng 7 ZSEN24
  • Điểm vào 1218
  • Dừng lỗ 1207
  • Chốt lời 1243

Lúa mì

SovEcon hạ dự báo sản lượng lúa mì năm 2024 của Nga

Công ty tư vấn nông nghiệp SovEcon đã hạ dự báo sản lượng lúa mì năm 2024 của Nga xuống còn 89,6 triệu tấn, giảm 3,4 triệu tấn so với ước tính đưa ra trước đó.

Cơ quan này trích dẫn rằng thời tiết khô hạn ở miền nam Nga, nơi lượng mưa thấp hơn 20 – 40% so với mức bình thường trong những tháng gần đây là nguyên nhân khiến họ điều chỉnh dự báo. Miền Nam chiếm khoảng 40% tồng sản lượng lúa mì của Nga trong một niên vụ.

SovEcon cũng lưu ý việc sương giá xảy ra vào đầu tháng 5 cũng có thể khiến năng suất giảm ở một số khu vực miền Trung và miền Nam. Mức dự báo hiện tại chưa tính đến tác động của sương giá vào ngày 9 – 10 tháng 5.

Về thông tin việc hạ dự báo sản lượng lúa mỳ giảm thì sẽ tác động tăng giá lên sản phẩm giao dịch này.

Kỹ thuật

Tín hiệu tham khảo:

  • Xem xét chờ mua lúa mỳ tháng 7
  • Điểm vào : 650
  • Dừng lỗ: 640
  • Chốt lời 680

Lúa mỳ đang thể hiện 1 xu hướng tăng tốt và 1 khối lượng volume mua mạnh. Tuy nhiên trạng thái giá đang ở vùng quá mua đối với RSI, nên chúng ta chờ 1 nhịp giảm điều chỉnh để tiếp tục mua lên theo xu hướng chính.

NĂNG LƯỢNG

Giá tiêu dùng của Trung Quốc tăng vượt dự báo trong tháng 4

Chỉ số CPI tháng 4 của Trung Quốc tăng 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với dự báo và mức 0,1% của tháng 3. So với tháng trước, CPI tăng 0,1% trong tháng 4, đảo chiều tăng mạnh từ mức giảm 0,1% của tháng 3.

Chỉ số PPI tháng 4 của Trung Quốc giảm 2,5% so với cùng kỳ, giảm mạnh hơn so với dự báo, nhưng giảm ít hơn so với mức giảm 2,8% của tháng trước. Đây cũng là tháng thứ 19 liên tiếp Trung Quốc rơi vào tình trạng giảm phát giá sản xuất, chuỗi giảm dài nhất kể từ năm 2016.

Lạm phát tại Trung Quốc tăng cao hơn kỳ vọng có thể hỗ trợ cho giá năng lượng trong phiên đầu tuần này.

Dầu thô

Kỹ thuật

Dầu thô chúng ta có thể thấy rằng giá đang biến động giao dịch Sideway trong biên độ giao dịch từ 77,5 đến giá 79. Với mức giá hiện tại đang tiệm cận ở vùng giá hỗ trợ của biên độ dưới đi ngang lần này. Trong tuần giao dịch này, chúng ta có thể ưu tiên canh mua lên trở lại đối với dầu thô tháng 7

Tín hiệu tham khảo:

  • Xem xét mua lên dầu thô tháng 7
  • Điểm vào 77 – 77,5
  • Dừng lỗ 76
  • Chốt lời 79,5

Khí tự nhiên

Trong khoảng thời gian vừa qua chúng ta đã chứng kiến được đà tăng của khí tự nhiên và giá cũng đã phá qua vùng giá với biên độ giá tích lũy dài hạn trước đó, cùng với đó là 1 khối lượng Volime mua lên khá mạnh. Trong phiên giao dịch tuần này, chúng ta sẽ ưu tiên mua khí tự nhiên là chủ đạo

Tín hiệu tham khảo:

  • Xem xét mua khí tự nhiên tháng 6
  • Điểm vào:  2,207 ( Dừng lỗ: 2,1) Hoặc 2,040 ( Dừng lỗ: 1,9)
  • Chốt lời: 2,6

KIM LOẠI

Đồng

Thông tin cơ bản

Theo Reuters, nhu cầu của thế giới đối với đồng – kim loại được coi là chỉ báo của nền kinh tế đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nhu cầu tăng mạnh khi lĩnh vực xe điện phát triển mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng về năng lượng tăng lên, AI và tự động hóa,… sẽ dẫn đến mức tiêu thụ đồng ở mức thấp nhất là 10 triệu tấn trong thập kỷ tới.

Sự phát triển công nghệ như trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, cũng như quá trình chuyển đổi năng lượng, bao gồm xe điện và năng lượng tái tạo, đã thúc đẩy triển vọng nhu cầu về cáp đồng dùng để dẫn điện.

Graeme Train, người đứng đầu bộ phận phân tích kim loại tại Trafigura có trụ sở tại Thụy Sĩ, cho biết 30% trong số những nhu cầu tiêu thụ sẽ đến từ lĩnh vực xe điện.

Ông nói thêm: “Nhu cầu từ sản xuất, truyền tải và phân phối điện cùng với tự động hóa, và hệ thống làm mát trong các trung tâm dữ liệu. Sự tăng trưởng của các trung tâm dữ liệu có liên quan đến AI cũng sẽ kéo theo nhu cầu về đồng”.

Việc đẩy nhanh sản xuất xe điện, tấm pin mặt trời và đầu tư vào lưới điện ở Trung Quốc cũng như sự gia tăng hoạt động sản xuất ở nước tiêu dùng hàng đầu đã thúc đẩy nhu cầu về đồng được sử dụng trong ngành điện và xây dựng.

Điều đó kết hợp với nguồn cung kim loại đồng tinh luyện và tinh quặng khan hiếm đã đẩy giá đồng trên Sàn giao dịch kim loại London (LME) lên mức cao nhất trong hai năm với gần 10.000 USD/tấn.

Các nguồn tin trong ngành đồng cho biết một phần nguyên nhân khiến giá tăng là do tồn kho tại các kho đăng ký ở LME sụt giảm, ở mức 121.200 tấn, giảm hơn 35% kể từ tháng 10 năm ngoái.

Nguồn cung đồng khai thác hoặc tinh quặng, nguyên liệu cho kim loại đồng đã sụt giảm do sự gián đoạn việc đóng cửa mỏ First Quantum, Mỏ Cobre ở Panama năm ngoái cũng đã giúp thúc đẩy đà tăng giá của đồng trong năm nay khi các nhà sản xuất gấp rút tìm nguồn cung thay thế.

Các nhà phân tích đã điều chỉnh lại dự báo của họ về cân bằng thị trường đồng kể từ tháng 12 /2023. Họ dự đoán thị trường đồng sẽ thiếu hụt đáng kể, ước tính khoảng 26 triệu tấn trong năm nay.

Train kỳ vọng nhu cầu đồng sẽ được thúc đẩy bởi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở các nước mới nổi, đặc biệt là ở Ấn Độ, nơi mức tiêu thụ đồng mỗi người mỗi năm chỉ là nửa kg. Ông cho biết ở Trung Quốc và các nước phát triển, mức tiêu thụ đồng bình quân đầu người lần lượt là 10 kg và 7 kg.

Cùng với vàng, đồng được coi là nơi trú ẩn an toàn khi các tập đoàn đa quốc gia cần hàng hóa này để chế tạo sản phẩm của họ. Các sáng kiến năng lượng xanh và sự bùng nổ của AI đang đẩy giá đồng lên mức cao mới trong bảng xếp hạng trong tháng này. Đồng đang được sử dụng chính trong sản xuất xe điện (EV) khi các nhà sản xuất xe hơi đang tung ra những chiếc ô tô điện mới.

Ngân hàng Citi mới đây cũng dự đoán giá đồng sẽ tiếp tục tăng lên 10.500 USD/tấn và sẽ đạt trung bình 10.000 USD trong quý II và III/2024. “Xét về các yếu tố rủi ro, hiện tại chúng tôi thấy đà tăng hiện tại sẽ tiếp tục trong ba tháng tới”, Citi cho biết.

Kỹ thuật

Khung Day

Hiện tại ở khung nến Day, giá đang trong cấu trúc tăng và đang trong quý trình điều chỉnh và tích lũy ở vùng đỉnh sau khi giá tiến tới vùng RSI quá mua. Giá đang bám sát ma20 và trendline nến sẽ tiếp tục ưu tiên mua lên

Khung H1

Ở khung H1 giá đã xác nhận cấu trúc tăng tiếp tục sau phiên thứ 5 tuần trước. Trong phiên thứ 6 giá đã điều chỉnh giảm và đang hình thành mô hình 2 đáy trong cấu trúc tăng và bật tăng trở lại.

Bạc

Thông tin cơ bản

Giá bạc từ đầu năm đến nay tăng mạnh nhất trong số các kim loại cơ bản.

Thị trường dự đoán đà tăng giá bạc vẫn chưa kết thúc, mặc dù giá sẽ có sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật, song sẽ tăng trở lại và đạt 30 USD/ounce nhờ hào quang từ giá vàng cao kỷ lục cùng với ảnh hưởng từ việc giá đồng tăng mạnh.

Lần gần đây nhất bạc chạm mức giá 30 USD là tháng 2/2021.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho biết giá bạc – mặt hàng vừa là tài sản đầu tư vừa là kim loại công nghiệp, được sử dụng trong ngành điện tử và tấm pin mặt trời – cũng có thể khó giữ ở mức 30 USD trong thời gian dài nếu hoạt động sản xuất trên toàn cầu và nhu cầu từ các quỹ đầu tư không hồi phục.

Philip Newman, giám đốc điều hành của công ty tư vấn Metals Focus cho biết: “Bạc đang bắt đầu hoạt động như một kim loại quý hơn là kim loại công nghiệp”.

Ông cho biết: “Tỷ lệ giá vàng – bạc đã giảm đáng kể kể từ đầu tháng 4/2024 và từ quan điểm kỹ thuật, thị trường có thể sắp đến lúc điều chỉnh (giá giảm), nhưng vẫn còn động lực đáng kể, điều đó có nghĩa là vẫn có thể đạt 30 USD.”

Tỷ lệ vàng – bạc, biểu thị một ounce vàng có thể mua được bao nhiêu ounce bạc, được thị trường sử dụng để đánh giá xu hướng trong tương lai vì nó cho thấy hiệu suất hiện tại của bạc so với mối tương quan lịch sử của bạc với vàng.

Ngân hàng Citi thậm chí cho rằng nhu cầu đầu tư vào bạc có thể giúp đẩy giá lên khoảng 32 USD/ounce vào nửa cuối năm 2024.

Tuy nhiên, quá khứ đầy biến động của kim loại trắng này đã khiến một số nhà phân tích thận trọng xem xét đợt tăng giá hiện nay.

Nhà phân tích Rhona O’Connell của StoneX cho biết: “Bạc nổi tiếng vì khả năng giảm giá mạnh và nhanh”. Kim loại này đã từng tăng lên gần 50 USD vào năm 2011 và sau đó giảm xuống còn 12 USD vào năm 2020.

Về yếu tố cung – cầu, Metals Focus nhận định thị trường bạc năm nay sẽ phải đối mặt với năm thứ 4 liên tiếp thâm hụt do kỳ vọng nhu cầu sẽ tăng từ lĩnh vực công nghiệp trong năm 2024.

Phillip Streible, giám đốc chiến lược thị trường của Blue Line Futures (trụ sở ở Chicago), cho biết, để giá bạc giao dịch trên mốc 30 USD, thị trường sẽ cần chứng kiến sự phục hồi sản xuất và nhu cầu năng lượng mặt trời tăng.

Tại một thị trường khổng lồ về tiêu thụ bạc – Trung Quốc, hoạt động sản xuất trong tháng 3/2024 đã lần đầu tiên tăng trưởng sau 6 tháng suy giảm.

Trên thị trường hiện đang xuất hiện hiện tượng nhu cầu bạc tăng từ các lĩnh vực khác, chẳng hạn như dòng vốn đổ mạnh vào các quỹ hoán đổi bạc (ETF) trong tháng 4/2024, nhưng chưa hình thành xu hướng bền vững.

Maria Smirnova, nhà quản lý danh mục đầu tư cấp cao tại Sprott Asset Management, cho biết: “Những tuần gần đây dòng vốn ETF bạc đã đảo ngược và tôi nghĩ đó là tác động từ giá bạc tăng. Nói cách khác, dòng vốn ETF đã đi theo giá hơn là dấu hiệu của xu hướng”.

Bà nói thêm: “Do đó, nếu giá bạc tiếp tục tăng thì dòng vốn ETF sẽ tiếp tục và thậm chí còn tăng tốc”.

Macquarie cũng cho rằng tình trạng thiếu cung bạc sẽ tiếp tục tồn tại trong suốt khoảng thời gian dự báo của mình (5 năm), mặc dù lượng tồn trữ dồi dào tại các kho dự trữ vẫn tiếp tục bù đắp cho sự thiếu hụt.

Tuy nhiên, việc không chắc chắn về triển vọng kinh tế toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực điện tử, lĩnh vực rất quan trọng đối với tiêu dùng công nghiệp của bạc, có thể hạn chế sử dụng kim loại này trong thời gian tới.

Kết quả khảo sát của Viện Bạc Thế giới (SI) dự kiến thiếu cung bạc trên toàn cầu năm 2024 sẽ tăng 17% lên 215,3 triệu ounce do nhu cầu tăng 2% – bởi tiêu dùng mạnh trong lĩnh vực công nghiệp – và tổng nguồn cung giảm 1%.

Philip Newman, giám đốc điều hành tại công ty tư vấn Metals Focus, đơn vị thực hiện cuộc Khảo sát này, cho biết: “Thiếu hụt trên thị trường bạc đã thúc đẩy giá tăng mạnh mẽ”. “Năm ngoái thâm hụt đã giảm 30%, nhưng xét về mặt tuyệt đối – thiếu hụt ở mức 184,3 triệu ounce – thì vẫn đáng kinh ngạc. Nguồn cung toàn cầu nhìn chung ổn định ở mức khoảng 1 tỷ ounce, trong khi nhu cầu công nghiệp tăng rất nhanh với tốc độ tăng trưởng 11%.”

Newman nói thêm: “Lượng bạc trữ ở các kho của Sàn giao dịch có thể xác định được, cũng như lượng kim loại không được trao đổi trên sàn giao dịch vẫn còn khá lớn. Tuy nhiên, một phần trong số lượng bạc này có thể được giữ chặt, vì vậy sẽ rất thú vị để xem thị trường sắp tới sẽ như thế nào và đâu là những tác động gì đến tình trạng thâm hụt đang diễn ra trên thị trường”.

Báo cáo của SI cho biết, lượng dự trữ tại các kho đăng ký với sàn London đã giảm 5% trong năm ngoái và tương đương gần 15 tháng nguồn cung toàn cầu tính đến cuối năm 2023.

Phần lớn sự sụt giảm tồn trữ được báo cáo diễn ra ở Trung Quốc, nơi trước đây là thị trường dư thừa do sản xuất bạc từ tinh quặng bạc nhập khẩu. “Tuy nhiên, sự gia tăng chóng mặt về nhu cầu công nghiệp ở Trung Quốc (44%) đang làm thay đổi động lực cung/cầu và tồn kho tại nước này”.

Góc nhìn kĩ thuật

Khung Day

Ở khung Day giá hiện tại đang trong cấu trúc tăng, giá đã hình thành đáy mới thành công cao hơn đáy cũ và tiếp tục bật tăng với kì vọng vượt qua đỉnh cũ tiếp tục cấu trúc tăng.

Khung H1

Ở khung H1 giá đã xác nhận cấu trúc tăng sẽ tiếp diễn và đang trong nhịp điều chỉnh giảm. Với việc giá đang trong cấu trúc tăng, mua vẫn sẽ tiếp tục ưu tiên cho tới khi có những tín hiệu đảo chiều.

NGUYÊN LIỆU CÔNG NGHIỆP

Đường 11

Thông tin cơ bản

Giá đường trắng kỳ hạn tháng 5/2024 chốt mức cao nhất ở 665,5 USD/tấn phiên 09/2, còn giá đường thô giao cùng kỳ hạn chốt mức cao nhất ở 24,02 US cent/lb cũng trong phiên này.

Theo dự báo trung bình của cuộc khảo sát của Reuters, kết thúc năm 2024, giá đường thô chốt ở 24,5 US cent/lb, tăng 19% so với cùng thời điểm năm 2023 khi thị trường đường toàn cầu chuyển sang trạng thái thâm hụt trong niên vụ tới; giá đường trắng ở mức 700 USD/tấn, tăng 17% so với cùng thời điểm năm 2023.

Các chuyên gia tư vấn của Brazil nhấn mạnh sự kết hợp giữa giá tăng cao trên thị trường quốc tế và việc phòng ngừa rủi ro đáng kể cho vụ thu hoạch sắp tới sẽ khuyến khích các nhà máy tập trung vào sản xuất đường, để hoàn thành các hợp đồng xuất khẩu và củng cố khả năng hồi phục của ngành đường.

Sản lượng đường từ khu vực trung nam Brazil dự kiến sẽ đạt mức cao nhất mọi thời đại ở 42,23 triệu tấn trong năm 2023/24.

Nhà phân tích Green Pool cho rằng, vụ mùa 2024/25 của Brazil dường như khó có thể đạt được sản lượng tốt vào khoảng cuối tháng 12, đầu tháng 1. Dự trữ toàn cầu vẫn khan hiếm trong khi cần có nguồn thặng dư đáng kể để lấp chỗ trống.

Theo số liệu mới nhất của ISMA, tính đến ngày 15/2/2024 của năm tiếp thị 2023/24 đang diễn ra (tháng 10 – tháng 9), sản lượng đường của Ấn Độ chỉ đạt 22,36 triệu tấn, giảm 2,48% so với mức 22,93 triệu tấn trong cùng kỳ năm trước.

Theo dự báo, Ấn Độ sẽ sản xuất được 31,6 triệu tấn đường trong niên vụ 2023/24 (tháng 10 – tháng 9), giảm xuống còn 29 triệu tấn đường trong niên vụ 2024/25 sắp tới. Czarnikow cho biết nếu không có tăng trưởng ở Ấn Độ sẽ dẫn đến sản lượng đường toàn cầu niên vụ 2024/25 có thể sụt giảm.

Sản lượng đường của Ấn Độ được dự kiến giảm so với mức tiêu thụ lần đầu tiên sau 7 năm và thậm chí có thể nhà sản xuất lớn thứ hai thế giới này phải nhập khẩu trong năm tới.

Ngày 18/01/2024, Chính phủ Ấn Độ đã quyết định áp thuế xuất khẩu 50% đối với sản phẩm mật rỉ đường, cho thấy dấu hiệu lệnh hạn chế xuất khẩu đường của Ấn Độ vẫn chưa có khả năng dỡ bỏ trong tương lai gần. Điều này càng làm củng cố thêm những lo ngại về nguồn cung đường tại quốc gia này.

Trong nửa đầu quý I/2024, giá đường Việt Nam tiếp tục duy trì mức cao 21.000 – 22.000 đồng/kg.

Hiện giá mía Việt Nam đang ở mức ngang ngửa và cao hơn các nước trong khu vực. Tuy nhiên Hiệp hội Mía đường vẫn kiến nghị các nhà máy nâng giá mía lên. Hàng loạt công ty mía đường trên cả nước đã thông báo tăng giá mía từ 1,1-1,3 triệu đồng/tấn chưa bao gồm các chi phí hỗ trợ vận chuyển, tăng 6% so với niên vụ trước đó.

Giá đường trong nước có thể sẽ vẫn neo ở mức cao trong thời gian tới nhờ chênh lệch cung – cầu đường.

Triển vọng sản lượng sản xuất vụ 2023/24 (bắt đầu từ tháng 12/2023) dự kiến sẽ tích cực nhờ diện tích vùng nguyên liệu mía trong nước được mở rộng trong bối cảnh giá đường tăng mạnh.

Hiệp hội Mía đường Việt Nam (VSSA) dự báo, sản lượng mía đưa vào chế biến trong niên vụ 2023/24 đạt 10,6 triệu tấn, tăng 9% so với cùng kỳ và sản xuất được hơn 1 triệu tấn đường thành phẩm, tăng 10% so với cùng kỳ – mức sản lượng cao nhất kể từ niên vụ 2019/20 đến nay.

Góc nhìn kĩ thuật

Khung Day

Giá Đường đang tiếp nối cấu trúc giảm, sau khi liên tục giảm qua các vùng đáy mới. Hiện tại giá đang tích lũy và test lại vùng đáy gần nhất quanh 19. Nếu giá giảm qua vùng này sẽ xác nhận giá tiếp tục cấu trúc giảm từ đầu năm nay.

Khung H1

Khung H1 hiện tại giá đang tạo vùng sideway quanh vùng đáy gần nhất. Hiện tại nên quan sát và chờ giá tạo cấu trúc xu hướng rõ ràng và thoát khỏi vùng sideway

Cà phê Robusta

Thông tin cơ bản

Tin tức nhận định lượng mưa không đủ ở Việt Nam và Brazil có thể dẫn đến sản lượng cà phê giảm sụt và sẽ hỗ trợ cho giá khỏi đà sụt giảm.

Theo hãng tin Reuters, Hiệp hội cà phê Buôn Ma Thuột cho biết, tổng lượng mưa tháng này tại tỉnh Đắk Lắk, vùng trồng cà phê trọng điểm của Việt Nam, có khả năng thấp hơn 50% so với năm ngoái. Tại Brazil, hoạt động thu hoạch cà phê Robusta đang diễn ra nhưng dự báo sản lượng cà phê giàu vị đắng giảm 5-10% so với số liệu ban đầu.

Tại Indonesia, quốc gia sản xuất cà phê Robusta lớn thứ hai sau Việt Nam, hoạt động thu hoạch cà phê vụ hiện tại đang được hoãn sang tháng Sáu, thay vì tháng Tư như mọi năm do quả cà phê chín muộn.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh – Phó Tổng giám đốc Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) – dự báo giá cà phê khả năng cao tiếp tục giảm trong một vài tuần tới, về vùng giá cuối năm 2023. Sau đó, giá sẽ phục hồi dần vào cuối năm 2024 do nguồn cung thực tế còn nhiều bấp bênh”.

Trong một cuộc thăm dò của Reuters hồi tháng 3/2024 đã phỏng vấn 10 thương nhân và các nhà phân tích. Đa phần dự báo cho rằng giá cà phê Arabica ​​sẽ kết thúc năm 2024 nằm trong khoảng 165 cent/pound, nếu như điều này là đúng thì có nghĩa là giá loại cà phê chủ lực sẽ giảm khoảng 9% so với mức cuối năm 2023. Giá cà phê Robusta cũng được dự kiến kết thúc năm 2024 trong khoảng 2.600 USD/tấn, thấp hơn 14% so với giá vào cuối năm ngoái.
Những người tham gia cuộc thăm dò tại thời điểm đó, tin rằng giá cà phê sẽ bị áp lực trong tháng 4-5 do triển vọng nguồn cung thuận lợi hơn.

Giá cà phê tăng cao tháng 3, 4 vừa qua bởi vì trên thế giới giai đoạn này chỉ có Việt Nam thu hoạch. Indonesia thì thu hoạch khoảng tháng 4-5, còn Brazil thu hoạch vào tầm tháng 7.

Trong khi Việt Nam phải đến tháng 10/2024 mới vào thu hoạch cà phê vụ mới thì những diễn biến thời tiết khô hạn khắc nghiệt hiện nay ở Tây Nguyên cũng khiến nông dân lo ngại về sản lượng cà phê của vụ tới.

Các chuyên gia kỳ vọng sản lượng cà phê Robusta ở Brazil sẽ tăng hơn vào năm 2024. Nhà môi giới StoneX dự báo sản lượng cà phê Robusta năm 2024 của Brazil sẽ vào khoảng 22,7 triệu bao so với 21,5 triệu bao vào năm 2023. Hiện nay không còn nhiều hàng tồn kho từ vụ mùa năm 2023.

Hiệp hội cà phê cao cao Việt Nam (Vicofa) dự báo, năm 2024 tiếp tục là năm thuận lợi cho xuất khẩu cà phê. Hiệp hội này cũng nhận định, mặc dù sản lượng có thể giảm song kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng và dự kiến có thể đạt khoảng 4,5 – 5 tỷ USD.

Góc nhìn kĩ thuật

Khung Day

Ở khung Day đã giảm qua trendline và ma20, xác nhận nhịp điều chỉnh giảm trong trend tăng dài hạn. Tuy nhiên giá đang điều chỉnh giảm trong cấu trúc tăng dài hạn nên sẽ cần các tín hiệu xác nhận giá sẽ tiếp diễn cấu trúc tăng hay sẽ chuyển thành cấu trúc giảm.

Khung H1

Ở khung H1 giá đã báo hiệu kết thúc cấu trúc tăng khi đã giảm qua vùng đáy gần nhất. Giá đang hình thành vùng tích lũy và test lại đáy gần nhất. Với việc cấu trúc tăng đã kết thúc, nếu giá giảm qua đáy gần nhất sẽ xác nhận cấu trúc giảm hình thành thành công.

GIA CÁT LỢI
Thành viên TOP đầu thuộc Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam
Địa chỉ: 163 Nguyễn Thị Nhung, KDC Vạn Phúc 1, Quốc Lộ 13, Phường Hiệp Bình Phước, Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
Hotline: 024 7109 9247
Print Friendly, PDF & Email